Tài liệu được bố cục thành các phần chính gồm: đại cương, nhận định, chăm sóc bệnh tay chân miệng độ 2, chăm sóc bệnh tay chân miệng nặng độ 3–4 và kết luận. Phần đại cương giới thiệu hướng dẫn bệnh tay chân miệng của Bộ Y tế năm 2024, lưu đồ chăm sóc bệnh tay chân miệng và cách phân độ bệnh. Theo nội dung tài liệu, bệnh tay chân miệng được phân thành độ 1, độ 2, độ 3 và độ 4; trong đó độ 1 là tay chân miệng không biến chứng, độ 2 có biến chứng thần kinh, độ 3 có biến chứng rối loạn thần kinh thực vật nặng và độ 4 là giai đoạn suy hô hấp, tuần hoàn nặng.
Tài liệu cũng nêu độ 2 được chia thành độ 2a và độ 2b, trong đó độ 2a là tay chân miệng có biến chứng thần kinh, còn độ 2b là biến chứng thần kinh nặng, gồm nhóm 1 và nhóm 2. Đây là điểm quan trọng giúp điều dưỡng và nhân viên y tế nhận biết trẻ có nguy cơ chuyển độ, từ đó theo dõi sát hơn và báo bác sĩ kịp thời khi có dấu hiệu bất thường.
Phần điều trị theo phân độ nhấn mạnh trẻ tay chân miệng độ 1 có thể điều trị ngoại trú tại y tế cơ sở nếu không có biến chứng, trong khi trẻ độ 2 cần điều trị nội trú tại bệnh viện. Trẻ độ 3 và độ 4 là nhóm bệnh nặng, cần điều trị tại khoa Hồi sức tích cực. Tài liệu đặc biệt nhấn mạnh “thời điểm vàng” trong điều trị tay chân miệng, xem đây là chìa khóa giảm tử vong.
Phần nhận định người bệnh tay chân miệng hướng dẫn điều dưỡng khai thác bệnh sử và đánh giá lâm sàng có hệ thống. Khi hỏi bệnh, cần ghi nhận ngày bắt đầu sốt, mức độ sốt, thời điểm xuất hiện bóng nước, hồng ban ở da hoặc loét miệng, tình trạng lừ đừ, co giật, cơn giật mình khi ngủ hoặc lúc thức, số cơn giật mình, số lần nôn ói, khả năng ăn uống, thuốc đang điều trị, tiền sử tiếp xúc với trẻ mắc tay chân miệng tại nhà hoặc trường học và tiền sử dị ứng thuốc.
Khi khám bệnh, tài liệu đề cập đến việc đánh giá dấu hiệu sinh tồn và độ bão hòa oxy, đánh giá tri giác theo thang AVPU gồm A – tỉnh táo, V – đáp ứng lời nói, P – đáp ứng kích thích đau và U – hôn mê. Điều dưỡng cần tìm các dấu hiệu bóng nước, hồng ban, loét họng, da nổi bông, cơn giật mình lúc khám nếu có, run chi, yếu liệt chi, run giật nhãn cầu. Về hô hấp, cần theo dõi nhịp thở, kiểu thở, tím tái, khó thở và SpO₂. Về tim mạch, cần đánh giá mạch, nhịp mạch, chi ấm hay lạnh, thời gian làm đầy mao mạch và huyết áp, đồng thời đối chiếu với nhịp tim và huyết áp bình thường theo tuổi.
Phần chăm sóc bệnh tay chân miệng độ 2 được trình bày theo lưu đồ chăm sóc điều dưỡng. Dù tài liệu trích xuất không hiển thị đầy đủ toàn bộ nội dung chi tiết của lưu đồ, có thể thấy trọng tâm là chăm sóc trẻ có biến chứng thần kinh, theo dõi sát diễn tiến, phát hiện sớm dấu hiệu chuyển độ và phối hợp thực hiện y lệnh điều trị. Ở nhóm này, vai trò điều dưỡng rất quan trọng trong theo dõi giật mình, tri giác, sốt, mạch nhanh, nôn ói, SpO₂, huyết áp và các biểu hiện thần kinh bất thường.
Phần chăm sóc bệnh tay chân miệng nặng độ 3–4 tập trung vào trẻ có rối loạn thần kinh thực vật nặng, suy hô hấp hoặc suy tuần hoàn. Tài liệu nêu các nội dung như thực hiện y lệnh, hỗ trợ bác sĩ, chăm sóc trẻ tay chân miệng thở máy, cố định nội khí quản và chăm sóc trẻ tay chân miệng đang lọc máu. Đây là nhóm nội dung có giá trị thực hành cao tại khoa Hồi sức tích cực Nhi, nơi trẻ bệnh nặng cần được theo dõi liên tục, bảo đảm đường thở, hô hấp, tuần hoàn, kiểm soát dịch, thuốc và thiết bị hỗ trợ sống.
Đối với trẻ thở máy, tài liệu có phần minh họa chăm sóc tay chân miệng thở máy và cố định nội khí quản. Nội dung này cho thấy điều dưỡng cần đặc biệt chú ý bảo đảm ống nội khí quản đúng vị trí, cố định chắc chắn, hạn chế tuột ống hoặc di lệch ống, theo dõi thông khí, SpO₂, tình trạng tiết đờm, nguy cơ tắc ống, chăm sóc miệng, hút đờm đúng kỹ thuật và phối hợp với bác sĩ khi trẻ có dấu hiệu suy hô hấp hoặc thay đổi thông số hô hấp.
Đối với trẻ lọc máu, tài liệu đưa ra hình ảnh minh họa bệnh nhi tay chân miệng độ IV đang lọc máu. Nội dung này gợi ý vai trò điều dưỡng trong chuẩn bị và theo dõi hệ thống lọc máu, quan sát đường vào mạch máu, tình trạng đông màng, dịch vào – ra, huyết động, nhiệt độ, dấu hiệu chảy máu, rối loạn điện giải, đồng thời phối hợp xử trí các thay đổi bất thường trong quá trình lọc máu.
Nhìn chung, tài liệu nhấn mạnh chăm sóc điều dưỡng trong bệnh tay chân miệng không chỉ là chăm sóc triệu chứng mà còn là quá trình nhận định liên tục, phát hiện sớm chuyển độ, thực hiện y lệnh chính xác, hỗ trợ can thiệp hồi sức và bảo đảm an toàn người bệnh. Đặc biệt, ở bệnh tay chân miệng nặng, điều dưỡng cần theo dõi sát thần kinh, hô hấp, tuần hoàn, da niêm, dấu hiệu sốc, tình trạng thở máy, đường truyền, thuốc vận mạch, lọc máu và các biến chứng liên quan.
- Đăng nhập để gửi ý kiến